Với Lee Myung-se, điện ảnh là quá trình lang thang trong mê cung của giấc mơ, là bản báo cáo của một thám tử lần theo những hình ảnh hiện lên trên màn ảnh mang tên bộ não. “M” (2007) là bộ phim mang trong mình cả chất kỳ ảo ngọt ngào của “First Love” (1993) lẫn sự hoang tàn khiến cả thể chất lẫn tinh thần lâm bệnh của “Their Last Love Affair” (1996). Mimi (Lee Yeon-hee) là hạt nhân của phim-ký ức. Phim-ký ức trong quan niệm của Lee Myung-se là quá trình chịu đựng chứng mất ngủ, nhớ lại những ký ức đứt đoạn, vô thức rời khỏi rồi trở về với không gian và thời gian như một người mộng du. Tấm rèm trắng rủ bên cửa sổ và chiếc lều lớn dựng trên sân trường vừa là màn ảnh để chiếu những hình ảnh hiện lên trong não Minwoo (Kang Dong-won), vừa chẳng khác nào ánh nhìn của hồn ma dai dẳng gọi anh ra. Nếu tác phẩm trước đó, “The Duelist” (2005), liên tục mở rộng và biến đổi các mặt phẳng để đạt tới hoạt động đẹp đẽ của vận động và tiêu biến, thì “M” là một cuộc trốn tìm tuyệt vọng, trong đó mặt phẳng và chiều sâu của điện ảnh đuổi theo nhau, cố tiếp xúc với ký ức-màn ảnh vỡ vụn của Minwoo. Nơi mà hồn ma mang tên Mimi, ký ức và tình yêu chạm đến khi nô đùa cùng niềm đam mê điện ảnh có lẽ chính là Lee Myung-se.
Bài giới thiệu chương trình của PARK InhoĐược dịch bằng AI
Sinh năm 1957. Ông tốt nghiệp Khoa Điện ảnh tại Học viện Nghệ thuật Seoul và ra mắt trong vai trò đạo diễn phim dài với “Gagman” (1988). Được biết đến với phong cách hình ảnh riêng biệt trong điện ảnh Hàn Quốc, ông đã thực hiện các bộ phim như “My Love, My Bride” (1990), “First Love” (1993) và “M” (2007). Ông giành Giải thưởng lớn và giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại Liên hoan phim châu Á Deauville cùng giải Grand Prix tại Liên hoan phim châu Á Fukuoka với “Nowhere to Hide” (1999), và giải Đạo diễn xuất sắc nhất tại Giải thưởng Nghệ thuật Baeksang với “Duelist” (2005).